TRANG CHỦ | TIN TỨC   ENGLISH
Giới thiệu
Tổ chức, bộ máy
KKT Vũng Áng
KKT CKQT Cầu Treo
Các KCN
Đầu tư
Chính sách ưu đãi đầu tư
Tin tức đầu tư
Dự án kêu gọi đầu tư
Dự án đã đầu tư
Doanh nghiệp
Tin liên quan đến DN
Danh sách DN trong KKT
Các mẫu báo cáo của DN
DN nộp báo cáo trực tiếp
Lao động - Việc làm
Tin Lao động Việc làm
Tuyển dụng
Mẩu báo cáo lao động
Quy hoạch
KKT Vũng Áng
KKT CKQT Cầu Treo
Các KCN
Thủ tục Hành chính
Danh mục TTHC của Ban
Biểu mẫu TTHC của Ban
Tin tức về TTHC
Liên kết Website
 
Bản in
 
Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tin đăng ngày: 10/3/2014 - Xem: 9479
 
 

Phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia  đang phát triển. Vì ở những quốc gia này, muốn hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp hiện đại, nhất là những ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, xe máy; các sản phẩm điện tử, điện lạnh,... một cách hiệu quả thì họ phải thực hiện thành công việc nội địa hóa một cách cơ bản các ngành công nghiệp đó. Muốn vậy, họ phải phát triển mạnh ngành công nghiệp hỗ trợ để các sản phẩm của nó thay thế dần, tiến tới thay thế hoàn toàn các sản phẩm nhập khẩu.

Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

Phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia  đang phát triển. Vì ở những quốc gia này, muốn hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp hiện đại, nhất là những ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, xe máy; các sản phẩm điện tử, điện lạnh,... một cách hiệu quả thì họ phải thực hiện thành công việc nội địa hóa một cách cơ bản các ngành công nghiệp đó. Muốn vậy, họ phải phát triển mạnh ngành công nghiệp hỗ trợ để các sản phẩm của nó thay thế dần, tiến tới thay thế hoàn toàn các sản phẩm nhập khẩu.

Công nghiệp hỗ trợ được hiểu là những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào; gồm các sản phẩm, hàng hóa trung gian và các sản phẩm, hàng hóa dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất. Trong thực tiễn kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp hỗ trợ. ở góc độ hẹp, công nghiệp hỗ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng, linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh. ở góc độ rộng hơn, công nghiệp hỗ trợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất khác góp phần tạo thành sản phẩm chính. Như vậy, hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất, từ sản xuất nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán sản phẩm... để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Trên thực tế, khái niệm công nghiệp hỗ trợ thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất những sản phẩm có sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp, đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt.

Công nghiệp hỗ trợ có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển ngành công nghiệp nói riêng và đối với phát triển kinh tế nói chung. Ngoài việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chiều rộng và chiều sâu, công nghiệp hỗ trợ còn góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Một ngành công nghiệp hỗ trợ kém phát triển sẽ khiến cho các ngành công nghiệp chính thiếu đi sức cạnh tranh, làm cho nhiều công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác phải phụ thuộc vào nhập khẩu, làm giảm hiệu quả của nhiều dự án đầu tư. Nhiều chuyên gia cảnh báo rằng, trong quá trình mở cửa hoàn toàn thị trường trong nước, nếu không xây dựng được ngành công nghiệp phụ trợ tương ứng, đủ sức cạnh tranh quốc tế và có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sẽ có những nhà đầu tư nước ngoài chuyển hướng đầu tư sang các nước khác, có nhiều lợi thế  hơn Việt Nam.

Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ở nước ta

Nhận thức được vai trò quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản nhằm đẩy mạnh việc phát triển công nghiệp hỗ trợ như: Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương), Quyết định 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ,... Trong những năm vừa qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng để đầu tư, phát triển các doanh nghiệp (DN) hỗ trợ nhằm tạo tiền đề cho việc phát triển ngành công nghiệp ở nước ta. Mặc dù đã thu được một số kết quả nhất định trong quá trình phát triển công nghiệp hỗ trợ như góp phần nâng dần tỷ lệ nội địa hóa của một ngành công nghiệp lắp ráp, giảm bớt tỷ lệ linh kiện, phụ tùng phải nhập khẩu từ nước ngoài..., tuy nhiên, có thể nhận thấy, ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trong thời gian qua còn rất nhiều hạn chế, yếu kém. Điều này thể hiện rõ qua các mặt sau:

Một là, công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn phát triển sơ khai và còn rất nhiều yếu kém. Việt Nam hiện có khoảng 30 ngành kinh tế - kỹ thuật cần đến công nghiệp hỗ trợ, trong đó có nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu, nhưng hầu hết các ngành công nghiệp lớn ở Việt Nam đều phải nhập khẩu nguyên liệu, phụ kiện ở nước ngoài để sản xuất. Chẳng hạn như ngành dệt may hàng năm xuất khẩu mang về cho nước ta hàng tỷ đô la Mỹ, nhưng phần lớn số ngoại tệ đó lại được sử dụng để nhập khẩu nguyên liệu, phụ kiện phục vụ cho sản xuất. Đây chỉ là một trong số nhiều ngành của Việt Nam điển hình trong việc phụ thuộc vào nguyên phụ liệu và linh kiện từ bên ngoài.

Hai là, công nghiệp hỗ trợ còn manh mún, kém phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp ô tô, xe máy; công nghiệp dệt may, dày da.

Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, tính đến nay, Việt Nam có khoảng 210 DN sản xuất linh kiện, phụ tùng cung cấp cho 50 DN sản xuất, lắp ráp xe ô tô. Nhưng các linh kiện, phụ tùng đó chủ yếu là các sản phẩm đơn giản, hàm lượng công nghệ thấp như: các chi tiết cấu thành khung gầm xe, thùng xe, xăm lốp, bộ tản nhiệt... Mục tiêu quy hoạch đặt ra đến năm 2010 là các chi tiết, linh kiện quan trọng như động cơ, hộp số, cụm truyền động phải sản xuất được 100.000 bộ sản phẩm/năm đã không đạt được. Mỗi năm, ngành sản xuất ô tô trong nước phải nhập khẩu gần 2 tỉ USD linh kiện, phụ tùng. Mặc dù đã có nhiều năm phát triển, nhưng các sản phẩm hỗ trợ của ngành này được đánh giá là kém phát triển nhất hiện nay, với tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt 5-10%. Ngành dệt may - da giày cũng là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng có tới 80 - 85% tỷ lệ nguyên phụ liệu phải nhập khẩu, bao gồm: vải, da, chỉ khâu cao cấp, nút áo, khoá kim loại...

Ba là, các DN sản xuất các sản phẩm hỗ trợ ở nước ta còn rất ít, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh yếu kém.

Qua khảo sát của các chuyên gia ở Bộ Công Thương và Bộ Khoa học và Công nghệ thì trình độ công nghệ của phần lớn các DN sản xuất các sản phẩm hỗ trợ ở nước ta mới chỉ đạt ở mức trung bình so với khu vực và nhiều quốc gia trên thế giới. Chỉ có sản phẩm của một số DN có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực này là có trình độ tiến tiến. Thực tế hiện nay, phần lớn các sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ ở nước ta vẫn do các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sản xuất và cung cấp, chất lượng thấp, khả năng cạnh tranh hạn chế nên chủ yếu chỉ tiêu thụ được ở thị trường trong nước. Vẫn còn tình trạng thiếu sự gắn kết giữa DN lớn và DN nhỏ, giữa DN trong nước với DN có vốn đầu tư nước ngoài trong việc sản xuất các sản phẩm hỗ trợ. Chính điều này đã dẫn đến không ít trường hợp DN có vốn đầu tư nước ngoài phải nhập khẩu những linh kiện, chi tiết sản phẩm mà DN trong nước sản xuất được với giá rẻ hơn giá nhập khẩu.

Bốn là, các sản phẩm hỗ trợ của nước ta nhìn chung còn nghèo nàn về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đơn điệu, giá lại cao hơn nhiều sản phẩm cùng loại nhập khẩu.

Trong khi đó, các sản phẩm hỗ trợ của Trung Quốc,  ấn Độ, Thái Lan, Malaixia... nhất là của Trung Quốc tuy chất lượng cũng không phải là cao hơn sản phẩm cùng loại của Việt Nam, nhưng hàng của họ giá rất rẻ, nhiều chủng loại, mẫu mã đa dạng; thêm vào đó, các quốc gia này còn có rất nhiều chính sách ưu ái với những khách hàng mới, khách hàng lớn, nhất là chính sách ưu đãi về giá, cho thanh toán chậm và có phong cách phục vụ tận tình nên được nhiều DN trong nước thuộc các lĩnh vực dệt may, dày da, lắp ráp xe máy, sản xuất sản phẩm điện tử đặt hàng.

Năm là, nhân lực phục vụ công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay, nguồn nhân lực giá rẻ không còn là một lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút FDI của Việt Nam khi mà các thỏa thuận về miễn giảm thuế nhập khẩu chính thức được thực hiện. Vấn đề cần phải quan tâm là làm thế nào để sản xuất được các mặt hàng vừa có chất lượng tốt, vừa có giá thành rẻ. Bởi sản phẩm rẻ nhưng chất lượng kém hay sản phẩm tốt nhưng giá thành cao về lâu dài đều rất khó có thể cạnh tranh được trước các sản phẩm nhập khẩu. Vì thế, điều cốt yếu hiện nay là cần phải đào tạo được nguồn nhân lực có khả năng quản lý, khả năng ứng dụng và có tính sáng tạo để sản xuất ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh cao.

Một số giải pháp phát triển

Theo tinh thần Đại hội XI, công nghiệp hỗ trợ được xác định là khâu đột phá để phát triển các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH. Để có thể phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ ở nước ta trong thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, đẩy mạnh việc hoàn thiện quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Mặc dù cách đây hơn 4 năm Bộ Công Thương đã phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Nhưng có thể nhận thấy rất nhiều mục tiêu mà quy hoạch đó đề ra đến năm 2010 đã không thực hiện được. Sở dĩ có tình trạng này là vì các mục tiêu được đưa ra nhưng không có đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, không có kế hoạch tài chính đủ mạnh để đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đó, hay rất nhiều mục tiêu đề ra còn mang tính dàn trải mà chưa tính toán hết các yếu tố tác động của thị trường... Chính vì vậy, ngành công nghiệp hỗ trợ ở nước ta trong những năm vừa qua vẫn ở trong tình trạng “dậm chân tại chỗ”. Theo chúng tôi, khâu đột phá đầu tiên để phát triển ngành này phải được thực hiện trên cơ sở hoàn thiện lại quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ. Trong đó từng ngành, từng lĩnh vực phải rà soát và đề ra mục tiêu phát triển các sản phẩm hỗ trợ của ngành mình theo phương châm “làm đến đâu chắc đến đó” và đề ra tiến độ cụ thể việc nội địa hóa cho từng sản phẩm, từng chi tiết chứ không đề ra theo kiểu “phong trào” như thời gian vừa qua. Trên cơ sở rà soát các mục tiêu đã đề ra đó, Bộ Công Thương cùng với các ngành có liên quan cần tiến hành hoàn thiện quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Để đảm bảo việc thực hiện được quy hoạch này, Nhà nước cần đầu tư có trọng điểm về mặt tài chính, công nghệ, nhân lực để tạo điều kiện từng bước hiện đại hóa các ngành như cơ khí chế tạo, điện tử, nhựa, cao su... đó là những ngành chủ chốt trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ.         

Hai là, đổi mới các chính sách nhằm khuyến khích các nhà đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Muốn ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển nhanh và bền vững thì Nhà nước phải coi đây là một ngành quan trọng, cần được sự quan tâm đúng mức và phải có những chính sách khuyến khích đủ mạnh để công nghiệp hỗ trợ phát triển. Trong đó, việc đổi mới các chính sách ưu đãi dành cho các DN sản xuất các sản phẩm hỗ trợ là hết sức cần thiết. Trong đó cần tập trung vào việc đổi mới các chính sách chủ yếu như:

- Về chính sách đất đai, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi về quỹ đất cho các DN sản xuất các sản phẩm hỗ trợ ( kể cả những DN được thành lập mới hay những DN mở rộng quy mô sản xuất) được thuê lâu dài và ổn định theo luật định. Các DN này được thuê đất với mức giá ưu đãi để các chủ DN có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.

- Về chính sách tín dụng, Nhà nước cần khuyến khích các ngân hàng thương mại dành sự ưu tiên nhất định về lãi suất và hạn mức tín dụng để tạo thuận lợi cho các DN hỗ trợ, nhất là trong trường hợp các DN này đầu tư hiện đại hóa máy móc, thiết bị hay sản xuất các sản phẩm thay thế nhập khẩu cung cấp cho các DN khác.

- Về chính sách thuế, cần xếp các DN sản xuất các sản phẩm hỗ trợ vào nhóm các DN được ưu đãi về thuế, để các DN này khi thành lập được hưởng thời gian miễn giảm thuế như các DN được ưu đãi đầu tư khác.

- Về chính sách đầu tư, để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ một cách hiệu quả thì Nhà nước cần đầu tư hình thành một số DN chủ chốt ở một số lĩnh vực như cơ khí chế tạo, nhựa, cao su, sản xuất linh kiện... theo hình thức Nhà nước đầu tư thành lập mới DNNN ở lĩnh vực này, sau khi đi vào hoạt động có hiệu quả thì sẽ triển khai cổ phần hóa; hoặc có thể mua cổ phần ở những DN chủ chốt ở lĩnh vực này, sau đó đầu tư hiện đại hóa các DN đó, khi các DN này đi vào hoạt động ổn định và kinh doanh có hiệu quả thì Nhà nước có thể bán cổ phần của mình cho các nhà đầu tư khác. Đây là kinh nghiệm khá thành công khi được áp dụng ở Singapore và một số quốc gia châu á khác.

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp hỗ trợ.

Muốn đặt ra mục tiêu phát triển một ngành công nghiệp hỗ trợ mạnh và hoạt động có hiệu quả trong tương lai thì vấn đề căn bản nhất đặt ra là đó phải là một ngành công nghiệp có thiết bị, công nghệ tiến tiến, hiện đại. Muốn vậy, chất lượng nguồn nhân lực cũng phải được không ngừng nâng cao. Để thực hiện được điều này, ngành giáo dục và các ngành có liên quan phải đào tạo cho được những kỹ sư có đủ trình độ về kỹ thuật thực hành và thực tiễn, trang bị cho họ kiến thức cần thiết về công nghệ hiện đại; mở rộng sự liên kết trong đào tạo giữa các trường đại học trong nước và các trường đại học có uy tín trên thế giới. Đồng thời, cần có sự đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo, từ các trường đại học cho đến các trường nghề để từng bước nâng dần chất lượng của những người lao động trong tương lai. Ngoài ra, Nhà nước cũng dành một phần ngân sách thỏa đáng để cử người đi đào tạo ở những quốc gia có truyền thống mạnh về phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho việc phát triển công nghiệp hỗ trợ của nước ta trong những năm tiếp theo.

Bốn là, tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong quá trình phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Cần đẩy mạnh sự liên kết giữa các DN trong nước với nhau cũng như giữa các DN trong và ngoài nước trong việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm hỗ trợ. Bộ Công Thương và Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam cần phối hợp với các DN có nhu cầu về các sản phẩm hỗ trợ cũng như các DN có khả năng sản xuất những sản phẩm này để tổ chức các buổi hội thảo về phát triển các sản phẩm hỗ trợ của từng ngành, từng lĩnh vực; tổ chức các hội chợ, triển  lãm về sản phẩm. Thông qua đó làm cầu nối cho các DN trong và ngoài nước liên kết, hợp tác với nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoặc thành lập liên doanh để cùng nhau sản xuất các sản phẩm hỗ trợ. Đây là cách thức rất hiệu quả mà các DN trong nước có thể thông qua đó có thể tạo thêm bạn hàng mới, mở rộng thị trường, tiếp cận được các công nghệ, thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm hỗ trợ của mình. Các DN có vốn đầu tư nước ngoài có thể giảm được chi phí nhập khẩu qua đó giảm được giá thành sản phẩm và cũng giảm bớt sự phụ thuộc vào các thị trường bên ngoài.

Năm là, hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho công nghiệp phụ trợ phát triển.

Hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng là một trong những giải pháp hết sức quan trọng trong việc đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để sản xuất các sản phẩm hỗ trợ. Việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ góp phần giảm bớt chi phí cho các nhà đầu tư, giúp cho hàng hóa của họ (linh kiện, vật tư, phụ tùng...) thuận lợi hơn trong việc lưu thông cả ở thị trường trong và ngoài nước.

Do nguồn vốn đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng thường rất lớn nên Nhà nước cần lựa chọn đầu tư những dự án có thể phát huy được hiệu quả cao ngay sau khi được đưa vào sử dụng như: xây dựng một số tuyến đường cao tốc kết nối giữa các trung tâm kinh tế ở các vùng kinh tế trọng điểm, hiện đại hóa một số bến cảng, sân bay quan trọng trong khu vực này, hiện đại hóa hệ thống viễn thông và nâng cấp hệ thống lưới điện... Ngoài ra, cũng nên khuyến khích hình thành một số KCN hợp tác với nước ngoài ở những vùng kinh tế trọng điểm... như mô hình KCN Việt Nam - Singapore để tạo thuận lợi cho các DN hỗ trợ của các nước này đến đầu tư tại Việt Nam.

Sáu là, Nhà nước cần tổ chức bộ phận chịu trách nhiệm theo dõi, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Cần thành lập một bộ phận chịu trách nhiệm theo dõi việc triển khai kế hoạch phát triển các sản phẩm hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế (có thể trực thuộc Bộ Công Thương). Để bộ phận này hoạt động có hiệu quả, cần bố trí những cán bộ chuyên trách có năng lực để kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch cũng như các kế hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Theo định kỳ, bộ phận này sẽ họp với đại diện các ngành để nắm chắc được tình hình thực hiện, qua đó, góp phần giải quyết những vướng mắc cho các DN trong quá thực hiện; đồng thời, tham mưu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp cho lãnh đạo Bộ và Chính phủ để việc tổ chức thực hiện theo đúng lộ trình mà các quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đã đề ra.

                                                                                                                                                             BBT tổng hợp

 
Chính sách ưu đãi đầu tư khác:
Ông lớn FDI “thúc” tăng trưởng kinh tế Việt Nam (2/10/2017)
Tham dự hội chợ Thương mại quốc tế thường niên Ấn độ lần thứ 37 (IITF-17) (11/9/2017)
Hà Tĩnh sẵn sàng tạo điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư (7/9/2017)
GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY NHANH GIẢI NGÂN KẾ HOẠCH VỐN ĐẦU TƯ CÔNG (1/9/2017)
Nội dung công khai ngân sách đối với đơn vị dự toán ngân sách (24/8/2017)
NGHỊ QUYẾT VỀ DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH (18/8/2017)
Thêm nhiều doanh nghiệp Đài Loan tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Hà Tĩnh (9/8/2017)
Thủ tướng chứng kiến Hà Tĩnh trao 4 văn bản hợp tác với các nhà đầu tư Đức (7/7/2017)
Hà Tĩnh ký ghi nhớ hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp Đức (7/7/2017)
Formosa đã an toàn? (30/5/2017)
Nhà đầu tư Cộng hòa Liên bang Đức cụ thể hóa hoạt động đầu tư tại Khu kinh tế Vũng Áng (17/5/2017)
Thông báo chấm dứt hoạt động của 2 dự án tại KKT Vũng Áng (24/4/2017)
Thu hút FDI trước kỳ vọng mới (9/2/2017)
Tâm sự của nhà đầu tư Đức khi tìm kiếm cơ hội tại Việt Nam (17/1/2017)
Việt Nam là “điểm sáng” khu vực về thu hút đầu tư (10/1/2017)
Thư ngỏ
Hà Tĩnh điểm đến của các nhà đầu tư
Văn bản pháp quy
Văn bản Trung ương
Văn bản Tỉnh Hà Tĩnh
Văn bản Ban
Video Clips
Video
Thư viện Ảnh
Một góc khu tái định cư
Xúc tiến đầu tư tại Đức
Quy hoạch chung Khu kinh tế Vũng Áng
Lãnh đạo tỉnh tham quan Khu kinh tế Vũng Áng
Dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng
Dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng
Xem tiếp >>
Liên kết Website
Hỗ trợ trực tuyến

TƯ VẤN ĐẦU TƯ, GIẤY PHÉP LAO ĐỘNG - 02393.868.939

Văn phòng Ban Quản lý KKT tỉnh Hà Tĩnh - 02393.891.962
Truy cập hôm nay: 3071
Tất cả: 5917006
Tra cứu thông tin Website
 
 
Trang chủ l  Giới thiệu  l  Tin tức  l  Đầu tư  l  Doanh nghiệp  l  Lao động - Việc làm  l  Quy hoạch  l  Thủ tục Hành chính  l  Hỏi đáp  l  Đầu tư  l Liên hệ
  TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ TỈNH HÀ TĨNH             
Cơ quan chủ quản: Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh                        
Địa chỉ: Xã Kỳ Lợi, Thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Tel: 02393.861.962; Fax: 02393.882.992